Sách giáo khoa của Trường Đông Kinh Nghĩa Thục có nguồn gốc từ Trung Quốc?
[Ngày đăng 10/04/2018]

Theo công bố của TS Nguyễn Nam tại Hội thảo “Việt Nam - Giao lưu văn hóa tư tưởng phương Đông”, tập sách giáo khoa khuyết danh Quốc Dân Độc Bản (QDĐB) - một trong những bản văn chính của Đông Kinh Nghĩa Thục là hậu thân được cải soạn từ quyển Guomin duben (Quốc dân độc bản) của Chu Thụ Nhân in ở Thượng Hải năm 1903.

TS Nguyễn Nam cho biết, kết quả này sẽ giúp các nhà nghiên cứu nhận diện rõ hơn về Đông Kinh Nghĩa Thục và các sách giáo khoa của nhà trường trong bối cảnh của lịch sử quan hệ tri thức Đông Á.   


TS Nguyễn Nam - Viện Harvard-Yenching, Hoa Kỳ.     

Lai lịch của nguyên tác

Theo TS Nguyễn Nam, trong số sách giáo khoa Hán văn còn sót lại của Đông Kinh Nghĩa Thục, QDĐB là bộ sách quan trọng được phổ biến rộng rãi, đặc biệt thu hút sự chú ý của học giới không chỉ bởi độ dày dặn của sách, mà còn do sự phong phú của các vấn đề cải tổ xã hội, sự đa dạng của các khái niệm mới được trình bày trong tác phẩm. Do đó, QDĐB nhận được sự quan tâm của đông đảo nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế như Đặng Thai Mai, Đinh Xuân Lâm, Đỗ Thúy Nhung, Imai Akio, Okada Takeshi, Dutton… với các khảo luận công phu, tỉ mỉ. Tuy nhiên, các công trình này đều mặc nhận QDĐB là tác phẩm của người Việt biên soạn nên không băn khoăn về nguồn gốc của tác phẩm.

“Ai là tác giả của QDĐB? Phải chăng những ghi chép về Nhật Bản trong sách là trải nghiệm trực tiếp của tác giả khi tiếp xúc với đất nước Đông Á cận lân này? Có chăng những nguồn tư liệu tham khảo để tác giả biên soạn bộ sách giáo khoa này nói chung cũng như những ghi chép về Nhật Bản nói riêng, và nếu có, đó là những nguồn nào?  Kết quả của các nghiên cứu hiện có dựa vào mặc định trên sẽ ra sao nếu như QDĐB thực chất là cải soạn của một bộ sách giáo khoa Trung Quốc, chứ không phải là sách giáo khoa của người Việt như học giới thường nghĩ?” - TS Nguyễn Nam đặt vấn đề.

Ông cho biết thêm, dựa trên kết quả xác nhận nguồn gốc của sách Tân Đính Luân Lý Giáo Khoa Thư trong quan hệ lịch sử tri thức Nhật - Trung - Việt, việc truy tìm nguồn gốc của QDĐB sẽ hứa hẹn nhiều gợi mở thú vị.

Khảo sát các sách giáo khoa Nhật Bản trước năm 1907 với tựa đề Kokumin dokuhon 国民読本 (Quốc dân độc bản) như Kokumin dokuhon của Ida Hideo (1887), Kokumin dokuhon của Kouga Senzaburou (1890), Kokumin dokuhon - Koutou shougakkou you do Bungakusha Henshūsho (Văn học xã biên tập sở, 1897) biên soạn, hay Dai kokumin dokuhon của Ichikawa Genzou (1903), ông nhận thấy những bộ sách này có sự tương đồng về hình thức và cách đặt vấn đề, nhưng không trùng khớp với QDĐB. Tuy nhiên, trong số các nghiên cứu về sách giáo dục quốc dân của các học giả Trung - Nhật có đôi bài chuyên khảo của Shen (2010) và Suzuki (2012) về một tập sách có nhan đề Guomin duben (GMDB - Quốc dân độc bản) biên soạn cuối đời Thanh với nội dung gần như trùng khớp hoàn toàn với QDĐB.   

Theo đó, tác giả nguyên tác QDĐB là 朱樹人 (Chu Thụ Nhân), tự là 友之 (Hữu Chi), người Thượng Hải.  Năm 1897, Chu làm việc, theo học và trở thành một trong những sáng lập viên của Trường Nam Dương Công Học - Thượng Hải, tiền thân của ĐH Giao Thông ngày nay. Là nhà “Tây học nhân tài” cuối đời Thanh, Chu còn có những hoạt động phiên dịch và biên soạn sách giáo khoa ngoài Trường Nam Dương. Bộ GMDB (2 tập) do Chu biên soạn được Văn Minh thư cục in lần đầu tại Thượng Hải vào tháng 2/1903. Tính đến tháng 6/1905, sách được tái bản 9 lần. Điều này cho thấy mức độ phổ biến của sách và nhu cầu xã hội đối với tác phẩm này.  

TS Nguyễn Nam cho biết: “Điều thú vị ở quyển sách này là trang bìa sách chỉ in bốn chữ Guomin duben, bài tựa đầu sách lại có thêm hai chữ 新編 (tân biên).  Hai chữ này sẽ trở nên rõ nghĩa hơn khi được đọc với đoạn đầu của bài tựa dẫn của sách, ‘Sách này mô phỏng theo thể lệ các sách giáo dục quốc dân của phương Tây, chuyên để dạy cho người thiếu niên mà soạn nên’. Như vậy, GMDB cho Chu soạn mới (tân biên) trên cơ sở sẵn có của các sách giáo dục quốc dân Tây phương”.  

Về kết cấu, bộ sách giáo dục quốc dân của Chu gồm 101 bài, được chia thành 3 phần.  Phần I gồm các bài từ 1 đến 27, “phát minh danh nghĩa xã hội, quốc gia, quốc dân để tạo lập công đức, biến đổi khí chất quốc dân”.  Phần II từ bài 28 đến bài 75, “luận thuật về chế độ danh nghĩa của chính thể, quan chế, học hiệu, quân chính, phu thuế, pháp luật, giao thông, cảnh sát, dân chính, hộ luật, tôn giáo; quan hệ giữa quốc dân và quốc chính; các quyền lợi quốc dân nên được thụ hưởng, và chức phận họ cần tận lực hoàn thành trên cơ sở quốc chính”. Và phần III từ bài 76 đến 101, “thuật bàn những điều thiết yếu đối với dân dụng căn bản kinh tế học để trừ bỏ những sai lầm bưng bít của thói tục hiện hành, thúc đẩy hạnh phúc xã hội”.

Được in lần đầu năm 1903, khi Trung Hoa vừa trải qua biến loạn Nghĩa Hòa Đoàn dẫn đến sự can thiệp của Liên quân tám nước (1901), và cũng là lúc triều đình nhà Thanh khởi sự thi hành Tân chính, từng bước cải cách nhà trường theo kiểu mới (Tân thức học đường), GMDB là một nỗ lực nhằm chuyển hóa ý thức của người dân từ thần dân của vương triều sang quốc dân của quốc gia.  

Đối chiếu với QDĐB, TS Nguyễn Nam cho rằng chỉ cần đọc và so sánh bài mở đầu và bài Biên tập đại ý của GMDB với những gì có trong QDĐB đã có thể thấy mức độ giản lược của bộ sách giáo khoa của Nghĩa Thục so với nguyên tác mà nó vay mượn. Nhưng điều đó không có nghĩa tập sách giáo khoa Việt Nam này chỉ là bản lược giản tác phẩm của Chu Thụ Nhân. 

“Việc đối chiếu hai bản văn này cho thấy tình hình phức tạp hơn nhiều, và cũng từ những biến đổi văn bản phức tạp ấy, có thể đọc ra những hàm nghĩa được người cải soạn ẩn ý đưa vào, những hàm nghĩa mà nếu không có đối sánh văn bản thì khó lòng nhận ra được” - TS Nam nhận định.

Cuộc du hành của văn bản

Khảo sát từng phần của GMDB so với hậu thân của nó ở Việt Nam, TS Nguyễn Nam đánh giá: “Xét về cấu trúc tác phẩm QDĐB đã thay đổi cấu trúc ba phần của GMDB, khi chia sách thành hai phần ‘Thượng biên 上編’ và ‘Hạ biên 下編’”.

Theo đó, phần I gồm 27 bài của sách GMDB đã bị cắt bớt 2 bài chỉ còn lại 25 bài trong QDĐB. Tựa bài phần lớn được giữ nguyên, nhưng một số trường hợp được thêm bớt chữ nghĩa, như bài 2 Ái quần được sửa thành Ái quần tâm hay bài 13 Quốc gia dữ nhân dân chi quan hệ được đổi thành Quốc dữ nhân dân chi quan hệ. Đặc biệt, người cải soạn QDĐB không chỉ sửa lại tựa đề bài 9 Trung Quốc lập quốc chi cổ và bài 10 Trung Quốc khai hóa chi tảo thành Ngã quốc lập quốc chi cổNgã quốc khai hóa chi tảo, mà còn thay thế những đoạn văn về vị trí địa lý, lịch sử Trung Hoa, và viết lại với dữ liệu Việt Nam. Chẳng hạn, GMDB viết rằng: “Ôi, nước La Mã vang danh một lần ngã quỵ không vực dậy được nữa. Các nước cổ xưa ở Tây Nam châu Á cũng đều đã suy diệt, chỉ có Trung Quốc là nước lâu đời với hơn 5.000 năm sừng sững tự lập trên địa cầu”. QDĐB đã viết lại đoạn này với tinh thần chống ngoại xâm đặc thù Việt Nam: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Tuy Tống, Nguyên, Minh, Thanh đã qua bao năm cũng không thể lấy cường quyền để leo cưỡi, đặt ách lên ta, đè nén, khống chế ta. Ôi, nước La Mã vang danh một lần ngã quỵ không dậy được nữa. Các nước nhỏ ở châu Á như Lưu Cầu cũng đều tiêu vong, chỉ nước ta là nước xưa hơn 4.000 năm sừng sững còn tồn tại”.

“Việc dẫn thơ Nam quốc sơn hà và đề cập Lưu Cầu (nhắc nhớ Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư của Phan Bội Châu) chính là sự kết nối hai mốc lịch sử đặc biệt của một dân tộc luôn phải đối đầu với hiểm họa ngoại xâm nhưng đều kháng cự thành công. Ngoài khơi dậy tinh thần dân tộc, những đoạn viết lại này đã Việt Nam hóa nguyên tác, làm người đọc xác tín bản chất Việt Nam của toàn văn bản, tin rằng đây là một văn bản hoàn toàn do người Việt biên soạn” - TS Nam nhận định.

Tựu trung, từ 101 bài trong GMDB, QDĐB đã lược bỏ 21 bài. Và tương tự Tân Đính Luân Lý Giáo Khoa Thư, QDĐB kỳ thực là một tập sách do người Trung Hoa soạn thảo, được ban tu thư Đông Kinh Nghĩa Thục vay mượn, sau đó loại bỏ tác giả nguyên tác và biến nó thành một công trình khuyết danh, ít nhiều biên tập lại nội dung bằng cách thêm vào sách các vấn đề Việt Nam.

Từ việc đối sánh hai bộ sách giáo khoa này, TS Nam nêu vấn đề: “Việc gì sẽ xảy ra khi một văn bản du hành đến một nơi xa, ở đó thông tin tác giả - xuất bản của nguyên tác bị gỡ bỏ, tác phẩm bị cải soạn một phần nhằm bản địa hóa, làm cho người đọc tin rằng đây là sách của người bản xứ?”.

Nhà nghiên cứu của Viện Harvard - Yenching minh định: “Trong trường hợp đó, người đọc bản xứ sẽ đọc những nội dung của nguyên tác như những gì đang xảy ra trong xã hội của chính họ, mà không biết rằng mình đang du hành xuyên quốc giới, không ngờ rằng mình đang ngộ nhận, tưởng tượng những hiện thực nước người là của nước mình. Không những vậy, các nhà nghiên cứu hiện nay sẽ đọc và diễn giải sách Tân Đính và QDĐB trên nền những sự kiện chính trị - xã hội của Việt Nam thời bấy giờ”.


Lý giải hiện tượng trên, TS Nam cho rằng những nét tương đồng của xã hội Đông Á (Trung Hoa và Nhật Bản) đầu thế kỷ XX sẵn có trong tác phẩm được trộn lẫn với những câu chuyện lịch sử và quan chế Việt Nam nên khiến người đọc dễ dàng nhận đấy là tác phẩm do (tập thể) tác giả người Việt biên soạn.

“Sự hồi sinh của tác giả Chu Thụ Nhân bên cạnh tác giả tập thể khuyết danh của QDĐB sẽ giúp chúng ta thấy được một hiện thực kết nối rộng hơn của các nước Đông Á đang nỗ lực duy tân để tồn tại độc lập trước sự thôn tính của Tây phương vào đầu thế kỷ XX” - TS Nguyễn Nam đúc kết về nghiên cứu gần 10 tháng của ông tại Nhật Bản (từ tháng 6/2016 đến tháng 4/2017) về việc truy tầm nguồn gốc của một tác phẩm thời danh đầu thế kỷ XX.


  Nhiều công bố mới về văn học và lịch sử Việt Nam

Hội thảo khoa học quốc tế “Việt Nam - Giao lưu văn hóa tư tưởng phương Đông” do Khoa Văn Học và Trung tâm nghiên cứu tôn giáo Trường ĐH KHXH&NV ĐHQG-HCM tổ chức cuối năm 2017. Hội thảo thu hút hơn 70 học giả, nhà nghiên cứu văn học, sử học và văn hóa từ Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc và Việt Nam tham dự.

Tại hội thảo, nhiều nghiên cứu đặc sắc về Việt Nam được các học giả quốc tế công bố như: GS Imai Akio (ĐH Ngoại ngữ Tokyo, Nhật Bản) giới thiệu 2 tác phẩm của Phan Bội Châu chưa được công bố trong bộ sách Phan Bội Châu toàn tập do Việt Nam xuất bản trước đây. Đó là bộ đôi tác phẩm Liên Á sô ngôn và Á châu chi phúc âm (1921) do người Nhật xuất bản. Qua việc giới thiệu 2 tác phẩm này, GS Imai Akio đã trình bày một số suy ngẫm về mối quan hệ giữa Phan Bội Châu và những người Nhật Bản theo Chủ nghĩa Liên Á sau phong trào Đông Du.

GS Trần Ích Nguyên (ĐH Quốc lập Thành Công, Đài Loan) công bố những phát hiện mới về thơ khắc dựng bia tại Trung Quốc của các sứ thần Việt Nam. Theo đó, ông đã khảo sát thực địa tại miếu Nhạc Phi, huyện Thang Âm, Hà Nam (Trung Quốc) và phát hiện hàng loạt thơ khắc bia của các sứ thần Vương Hữu Quang (1848), Mai Đức Thường (1849), Phan Huy Vịnh, Phạm Chi Hương (1853), Nguyễn Tư Giản (1869), Nguyễn Thuật (1881) và Trần Khánh Tiến (1881). Những bia đề thơ này đều chưa được ghi chép trong các thư tịch Hán văn đi sứ của Việt Nam.

Toàn văn 77 báo cáo tại hội thảo được in thành cuốn Việt Nam - Giao lưu văn hoá tư tưởng phương Đông dày hơn 1.000 trang do NXB ĐHQG-HCM phát hành.


PHIÊN AN lược ghi

TS Nguyễn Nam - Viện Harvard-Yenching, Hoa Kỳ.

TS Nguyễn Nam - Viện Harvard-Yenching, Hoa Kỳ.

Đại Học Quốc Gia Tp. HCM
Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, Tp. HCM
Điện thoại:84.8 37242181 - 37242160
Fax: 84.8 37242057
Lượt truy cập : 15387678
Đang online : 232
Bản quyền (C) 2009 thuộc Đại học Quốc Gia TP.HCM - Phát triển bởi PSC
Merry Chrismas